Thursday, December 14, 2006

Khi Dậu Ðổ thì....Bim Leo




Chuyện dài Iraq: Khi dậu đổ bìm leo…,
Có những lựa chọn nào không khó khăn cho TT Bush?
Nguyễn Anh Tuấn, Dec 05, 2006

Cali Today News - Trong cuốn sách bestseller “Kế Hoạch Tấn Công” (Plan of Attack) phát hành vào mùa hè năm 2004 của nhà báo Bob Woodward thuật lại khá tỉ mỉ những diễn biến liên quan đến quyết định tấn công Iraq của chính quyền Bush, có một đoạn kể lại chuyện ăn mừng của những chính trị gia bảo thủ tại tư dinh của Phó tổng thống Dick Cheney liền sau khi những tuần lễ đầu của cuộc chiến đem lại thành công mỹ mãn với việc tiến chiếm thủ đô Baghdad một cách thần tốc chỉ mất vài tuần lễ và giật sập bức tượng của lãnh tụ độc tài Saddam Hussein. Trong số những khách hiếm hoi được vợ chồng ông Cheney mời gồm có các ông Scooter Libby Lewis, lúc bấy giờ là đổng lý văn phòng của ông Cheney, và Kenneth Adelman, một người bạn đồng sự lâu năm và cũng từng là một viên chức cao cấp trong nội các thời TT Reagan. Khi chủ và khách cùng nhau nâng ly “Dô! Dô!” để chúc mừng cho chiến thắng vinh quang của TT Bush, ông Adelman tỏ ra xúc động mạnh, mắt rươm rướm lệ trong một nỗi vui mừng khôn tả. “Quả thật lúc đó là thời điểm lâng lâng tuyệt vời,” (euphoric moment), đó là lời ông mô tả khi hồi tưởng lại phút giây đặc biệt ấy.Ông Adelman xúc động thật sự vì ông là một trong số ít những cựu viên chức cao cấp trong chính quyền ủng hộ triệt để kế hoạch tấn công Iraq. Trong bối cảnh sửa soạn cho cuộc chiến với những lời lẽ cứng rắn có tính cách răn đe hay hăm doạ của chính quyền Bush mặc dù có sự chống đối dữ dội và gay gắt từ phía những quốc gia đồng minh trụ cột và lâu đời như Pháp và Đức, người ta chú ý nhiều đến một số các bài viết của các chính trị gia phe bảo thủ từng tham chính trong nội các trước đây. Một cựu viên chức cao cấp là ông Brent Scowcroft, từng là cố vấn an ninh quốc gia dưới thời TT Bush Bố, đã viết một bài với nội dung tỏ ý khuyên can là chớ có nên ỷ y mà lao đầu vào cuộc chiến này trước khi cân nhắc kỹ lưỡng, bằng không thì sau này sẽ lãnh đủ. Một nhân vật nổi tiếng khác là ông Henry Kissinger, cựu ngoại trưởng và cố vấn an ninh quốc gia thời TT Nixon, thì viết một bài khá dài và rắc rối khó hiểu, đúng với thói quen và phong cách của ông, vừa giảng giải vừa có tính cách cố vấn. Chỉ có ông Adelman là đã viết một bài đăng trên tờ Washington Post để ủng hộ hết mình cho giải pháp quân sự tấn công Iraq. Và ông còn cho rằng chẳng có gì phải lo ngại, với sức mạnh tuyệt luân của quân đội Hoa Kỳ lúc bấy giờ, việc tiến vào thủ đô Baghdad để lật đổ chế độ Saddam chỉ là một chuyện nhỏ và dễ dàng (a cakewalk), nghĩa đen là một điệu nhảy múa thưởng bánh của người da đen; nói theo kiểu bình dân thì việc đó dễ như “ăn cơm sườn”. Khi cuộc chiến nổ ra, hai vợ chồng ông Adelman đang đi du lịch ở Âu Châu và ông nhận được cú điện thoại hỏi thăm của ông Cheney cùng với lời cảm tạ về bài báo ủng hộ. Khi ông Cheney ngỏ ý để mời vợ chồng ông Adelman đến nhà chơi vào cuối tuần thì ông Adelman rất cảm động và vui mừng, sẵn sàng huỷ bỏ những ngày còn lại của chuyến du lịch để trở về Mỹ ngay hầu có thể đến viếng thăm ông bà Cheney cùng với những bạn đồng sự cũ. Nhưng chỉ hơn ba năm rưởi sau, tình cảm của ông Adelman đối với chính quyền Bush đã hoàn toàn thay đổi, quay ngược lại 180 độ. Cuộc tiến chiếm Baghdad tưởng như dễ dàng hôm nào giờ đây đã trở thành một cuộc trường chinh đi dần vào mê lộ hay tử địa, và không hy vọng thấy một lối thoát khả quan nào. Ông lớn tiếng chê trách việc làm bất tài của ông Rumsfeld, tuyệt giao với ông Cheney, và cho rằng “TT Bush là người chịu trách nhiệm sau cùng cho cuộc thảm bại Iraq.”Ông Adelman không phải là người đầu tiên hay người sau cùng trong những tiếng nói chỉ trích thành tích của chính quyền Bush trong cuộc chiến Iraq mặc dù đã từng ủng hộ giải pháp chiến tranh một cách tích cực từ lúc ban đầu. Có điều là ông có can đảm và liêm sỉ để nhìn nhận những sai lầm, thay vì cứ ngoan cố và lấp liếm đưa ra những luận cứ nguỵ biện như bộ ba Bush – Cheney – Rumsfeld vẫn thường làm. Ngay cả trong cộng đồng người Việt định cư tại Hoa Kỳ, thời bấy giờ đa số đều có vẻ như ủng hộ giải pháp tấn công của ông Bush, mặc dù nó thiếu căn bản pháp lý và chỉ phản ảnh đúng tư duy và hành động của một anh cao bồi hay võ biền, chỉ biết dùng sức mạnh để áp đảo kẻ yếu thế hơn thay vì tranh luận để biết thiệt hơn, phải trái rõ ràng. Có lẽ chỉ có kẻ viết báo nhà quê là tác giả bài này đã thẳng thắn trình bày và phân tích cặn kẽ vấn đề từ lúc ban đầu, vạch ra những dự tính và âm mưu sửa soạn dồn quân để tấn công của chính quyền Bush trong khi vẫn lớn tiếng cho rằng đang đeo đuổi theo đường lối ngoại giao chứ không chỉ chủ trương dùng giải pháp quân sự. Dựa theo những bài phân tích kỹ lưỡng và sâu sắc của nhiều nhà báo uy tín từ Âu sang Á, kẻ viết bài này đã tổng hợp để tường trình rằng những lời lẽ trong bài diễn văn tuyên chiến của TT Bush thiếu tính chân thật khi ông nói rằng giải pháp quân sự là lựa chọn cuối cùng mà ông phải áp dụng, trong khi trên thực tế ông chẳng bao giờ thèm đoái hoài gì đến giải pháp ngoại giao để thương lượng hay điều đình. Bởi vì lúc đó ông Bush và bộ tham mưu ở Bạch Cung đang say men chiến thắng sau thành công lớn ở chiến trường A Phú Hãn, nên muốn nhân cơ hội này để biểu dương sức mạnh tuyệt luân của đệ nhất siêu cường hầu cho mọi người phải khiếp vía nể sợ, đúng như lời đốc thúc và tâng bốc của nhiều phụ tá đầy lý tưởng hão huyền theo trường phái tân-bảo-thủ. Những diễn tiến sau đó đã minh chứng điều này một cách xác đáng, cũng như đã cho thấy là tư duy và thái độ cao ngạo của ông Bush và bộ tham mưu của ông, xem thường mọi người khác ý kiến, có lẽ bắt nguồn từ niềm tin sắt đá và mãnh liệt của ông khi cho rằng chỉ có mình mới có chính nghĩa, và chính mình đã được Thượng Đế đặt để trong chức vụ cao cả và quan trọng này để thực hiện cho bằng được một sứ mạng quan trọng là biến đổi cục diện thế giới này theo một chiều hướng thuận lợi và tốt lành hơn. Chỉ tội cho một tờ báo ở địa phương Houston là bán nguyệt san Tự Do mà kẻ viết bài này đã cộng tác lâu năm là đã phải hứng chịu một số lời chỉ trích, phê phán hay chửi bới của một số người cực đoan có tinh thần “bảo hoàng hơn vua”, vì cho rằng tác giả đã tỏ ra không có tinh thần “ái quốc” và đã quên ơn cưu mang của Hoa Kỳ. Tuy nhiên đã bước vào nghiệp viết báo là phải có can đảm nói lên sự thật, sau khi đã biết tìm hiểu cho rõ ràng và đích xác đầu đuôi câu chuyện trước khi nói đến chuyện phê bình hay phân tích. Và phải có can đảm nhìn nhận lỗi lầm hay sai trái, sơ sót của mình mà không sợ phản ứng bất lợi. Đó là một điểm son dễ nhìn thấy ở đa số các nhà báo lớn tại Hoa Kỳ này mà chúng ta phải khâm phục.Giờ đây, có lẽ TT Bush đã không còn ngạc nhiên trước nhiều lời phê bình chỉ trích về chính sách của ông, vì nó không đơn thuần đến từ phía đối lập thuộc đảng Dân Chủ. Trong quá khứ, ông bỏ mặc những lời chống đối này và chụp mũ cho những chính trị gia Dân Chủ là thành phần hèn nhát, chỉ chực bỏ cuộc mỗi khi thấy có khó khăn hay trở ngại, thích chủ trương nói đến chuyện thương thuyết với bọn gây ra tội ác thay vì phải cứng rắn dùng biện pháp mạnh để trừng trị hay trả đũa. Dư âm và hình ảnh kinh hoàng của vụ khủng bố 9/11 vẫn còn ghi đậm trong tâm khảm của đa số người dân Hoa Kỳ nên đã giúp cho kế hoạch tuyên truyền và chụp mũ tinh vi này đạt được thành công, xuyên qua kết quả của các vụ bầu cử năm 2002 và 2004, người dân Mỹ tiếp tục giao phó niềm tin nơi ông cho dù có chút hoài nghi lưỡng lự. Mặc dù đã có những bằng chứng hiển nhiên tai hại như tin tức tình báo hoàn toàn sai lạc về cái gọi là kho vũ khí tàn sát quy mô, như vụ hành hạ tra tấn tù nhân tại nhà tù Abu Ghraib, người dân Mỹ bắt đầu tỉnh ngộ dần, nhưng vẫn giành cho TT Bush cái ân huệ gọi là “benefit of the doubt”, tức là chưa có bằng chứng rõ ràng về ý đồ sai lầm thì còn tiếp tục tin tưởng, và cho rằng dẫu có sai lầm thì có thể là do lỗi của nhân viên dưới quyền chứ không phải là do sự chủ động của người chỉ huy.Thế nhưng cử tri Mỹ có ngây thơ nhưng không phải là ngu, và dẫu có bị lừa một lần đi nữa thì cũng không ngu để tiếp tục bị lừa lần thứ hai, và do đó trong cuộc bầu cử ngày 7 tháng 11 vừa qua, họ đã nói lên một cách dứt khoát và rõ ràng về nhận xét của mình đối với chính sách cầm quyền tệ hại của ông Bush. Trước đó không lâu, ngay cả nhiều vị dân cử cùng đảng Cộng Hoà cũng đã đánh hơi được sự xoay chiều của công luận khi mà tình hình tại Iraq càng ngày càng tồi tệ hơn trong khi chính quyền cứ mặc nhiên làm ngơ hay tiếp tục nói dối bằng những luận điệu lạc quan, xem thường sự hiểu biết và trình độ nhận thức của người dân. Nhiều nhân vật diều hâu có tên tuổi đã không ngần ngại nói lên sự phản tỉnh của mình, không còn mê muội tin vào một tương lai thành công như lời hứa hẹn của chính quyền Bush. Thậm chí nhiều vị dân cử Cộng Hoà, như nghị sĩ liên bang Kay Bailey Hutchison đại diện cho tiểu bang Texas, đã can đảm thú nhận rằng nếu như biết trước những tin tức tình báo sai lạc như vậy thì họ đã không bỏ phiếu chuẩn thuận cho TT Bush khai chiến tấn công Iraq. Đa số các dân biểu, nghị sĩ của phe Cộng Hoà thất cử trong kỳ bỏ phiếu vừa qua đều đổ lỗi cho ông Bush, nhất là thành tích bết bát và tệ hại trong cuộc chiến tại Iraq. Một số những nhân vật cao cấp trong hậu trường, điển hình như ông Adelman, cũng bộc lộ ra trước công luận sự bất mãn của mình.Việc nhiều người bỏ rơi ông Bush càng lộ nét hơn trong những tuần lễ trước ngày bầu cử với việc phát hành của một cuốn sách mà tác giả là David Kuo, một phụ tá trong Bạch Cung trước kia đặc trách việc phát triển các chương trình xã hội có mầu sắc và ảnh hưởng của tôn giáo (faith-based initiatives), đã chỉ trích bộ tham mưu của chính quyền Bush là đạo đức giả và chỉ biết chìu theo những đòi hỏi của khối cử tri bảo thủ giáo điều cực hữu (Christian conservatives). Cùng lúc đó, tờ tuần báo Vanity Fair cho đăng một loạt bài phỏng vấn những tên tuổi bảo thủ như Richard Perle, Ken Adelman và nhiều nhân vật tân-bảo-thủ khác công kích mạnh mẽ chính sách của TT Bush.Thật ra thì sự chống đối hay chỉ trích chính quyền Bush từ những tiếng nói trong nội bộ, vốn thường là những lời phê phán nặng nề nhất, đã bắt đầu từ khoảng hai năm nay, khởi đi từ phía các chính trị gia theo trường phái thực tiễn, thường quy tụ chung quanh ngoại trưởng Colin Powell. Khi ông Powell bị thất sủng một cách không kèn không trống để cho Bạch Cung đưa bà Rice sang thay thế hầu dễ bề kiểm soát những tiếng nói không trung thành đang tại chức tại Bộ Ngoại Giao thì những phụ tá cao cấp của ông Powell như Richard Armitage, Carl Ford Jr., Richard Hass và Lawrence Wilkerson đã thẳng thừng chỉ trích đường lối của chính quyền Bush bằng cách công khai hoá những quan điểm chống đối mà phe họ đã đưa ra trong những cuộc tranh luận nội bộ nhưng sau cùng đã bị bác bỏ bởi phe cánh Cheney – Rumsfeld. Chính ông Wilkerson, đổng lý văn phòng ở Bộ Ngoại Giao, là người đã chỉ trích đích danh cặp bài trùng này và cho rằng chính sách điều hành và ngoại giao của Hoa Kỳ đã bị giật dây bởi “bè đảng” này (a Cheney – Rumsfeld cabal). Một số viên chức khác sau thời gian phục vụ tại Iraq đã chứng kiến những sai lầm và khiếm khuyết nặng nề nên khi trở về đã không ngần ngại viết sách để tố cáo cho công luận biết, như Larry Diamond, tác giả cuốn “Chiến Thắng Hoang Phí” (Squandered Victory) hoặc David Phillips, tác giả cuốn “Để Thua Iraq” (Losing Iraq). Một số tướng lãnh hay các viên chức cao cấp của CIA cũng sẵn sàng thổ lộ tâm tư bực tức của mình trước những sai lầm to lớn, sau khi đã xin từ chức hay rời khỏi nhiệm sở, nổi bật nhất là cuộc nổi loạn của một số tướng lãnh tư lệnh hồi hưu khi cùng nhau ký tên yêu cầu ông tổng trưởng Rumsfeld phải nên từ chức.Nhưng đáng chú ý hơn hết là sự chống đối hay chỉ trích từ phía các chính trị gia chủ động của trường phái tân-bảo-thủ vì thành phần này thường được coi là linh hồn để khích động và hướng dẫn cho các chính sách và kế hoạch táo bạo của TT Bush. Các ông Perle, Adelman và những tên tuổi tân-bảo-thủ khác luôn luôn chủ trương rằng Hoa Kỳ phải sẵn sàng sử dụng sức mạnh quân sự và kinh tế của mình để đạt được những mục tiêu cao đẹp là thổi một luồn sóng tự do và dân chủ lên nhiều phần đất đối nghịch trên thế giới, bắt đầu từ Iraq của Saddam Hussein để từ đó làm đuốc soi đường cho các quốc gia lân cận. Ông Perle, từng làm chủ tịch hội đồng cố vấn Defense Policy Board ở Ngũ Giác Đài vào thời điểm năm 2003 thì cho rằng lỗi lầm là ở bộ máy điều hành của chính quyền Bush. Ông cho rằng mình chỉ chủ trương tấn công để lật đổ Saddam chứ không cổ động cho một chính sách chiếm đóng Iraq để rơi vào cảnh sa lầy như hiện nay. Ông Adelman, bạn thân của hai ông Cheney và Rumsfeld và cũng là thành viên của Defense Policy Board, thú nhận rằng ông đã sớm thất vọng ngay sau khi cuộc chiến nổ ra không lâu. Việc không tìm ra được các kho vũ khí tàn sát quy mô khiến ông thấy khó chịu và bối rối. Ông cũng bực mình không ít trước những lời phát biểu vô trách nhiệm kiểu “Stuff happens” (Ờ, thì chuyện đó thường xảy ra thôi) của ông Rumsfeld trước cảnh dân Iraq hôi của tại Baghdad. Và điều làm ông chịu hết nổi là việc TT Bush lại quyết định trao tặng huân chương cao quý Medal of Freedom cho các ông Paul Bremer, toàn quyền tại Iraq, Đại tướng Tommy Franks, tư lệnh vùng Central Command chỉ huy chiến dịch tấn công, và Tổng giám đốc CIA George Tenet. Theo ông Adelman thì những người này là ba nhân vật góp phần quan trọng trong cuộc thất bại tại Iraq. Do đó, ông cho rằng bộ tham mưu về an ninh quốc gia của TT Bush là một “nhóm bất tài nhất” trong vòng nửa thế kỷ qua. Tuy vậy, ông vẫn giữ im lặng vì nể tình bè bạn trung hậu nên không lên tiếng trước công luận. Nhưng trong chốn riêng tư, ông đã chỉ trích thẳng thừng, khiến cho ông Rumsfeld nổi giận, và yêu cầu ông từ chức khỏi hội đồng Defense Policy Board vào tháng 9 vừa qua. Đó là lý do chính khiến ông phải buộc lòng tiết lộ ra ngoài sự chống đối của ông. Tuy nhiên, ông Adelman có dũng khí và liêm sỉ hơn khi ông chấp nhận phần lỗi của mình: “Khi mình chủ trương một chính sách nào đó thì mình cũng phải chịu trách nhiệm nếu như cái chính sách đó trở thành thất bại.”Ngoài các chính trị gia đã biết tự đấm ngực nhận lỗi “mea culpa” (lỗi tại tôi) thì một số các nhà báo có uy tín cũng tự nhận là đã sai lầm khi ủng hộ chiến dịch tấn công Iraq trước đây, cho dù là với những lý tưởng không hoàn toàn giống với chủ trương và mục đích của chính quyền Bush.Đó là hành động của ban chủ biên tờ tạp chí The New Republic, một trong những tờ báo theo trường phái cấp tiến nhưng lại hoàn toàn ủng hộ theo khuynh hướng tân-bảo-thủ để cổ võ nồng nhiệt cho chính sách tấn công Iraq. Trong số báo phát hành đề ngày 27-11 mới đây với chủ đề dành cho Iraq, ban chủ biên đã viết một bài quan điểm nhận lỗi về sự sai lầm đã hỗ trợ cho cuộc chiến Iraq trước đây, đồng thời cũng làm một diễn đàn cho 14 chuyên gia thuộc nhiều khuynh hướng khác nhau như nhà báo, sử gia, chiến lược gia và cựu viên chức chính quyền góp ý và phân tích cho một lối thoát hiện nay. Trong bài bình luận chính, tờ báo này đưa ra một nhận xét khá cay đắng: tuy các chuyên gia không đồng thuận trong những giải pháp cho một tương lai tại Iraq, nhưng những kết luận của họ có thể được chia thành hai nhóm: đen tối, hoặc hắc ám hơn nữa (grim and grimmer). Tác giả bài bình luận phân tích tiếp. Cho dù có bàn thảo, hội họp, nghiên cứu đến mấy đi chăng nữa, thì cuối cùng mọi người cũng phải đi đến kết luận là hiện nay không có một chính sách nào cho Iraq để mong đạt được một sự hài lòng về mặt chiến lược hay đạo nghĩa, cũng như sẽ không có một lý do nào để tin rằng Hoa Kỳ sẽ đạt được một thành tích khả quan nào để có thể gọi là chiến thắng. Những cuộc tranh luận sắp tới về thời điểm rút quân, cũng như mức độ rút hay giảm quân v.v. . . chắc chắn sẽ ồn ào và khơi lại nhiều nỗi bực tức, oán giận và chỉ trích bè phái. Nhưng rồi cuối cùng thì cả hai bên cũng sẽ đưa ra những kết luận chẳng khác gì nhau: đó là một kết quả gần như chẳng thể chấp nhận nổi (largely intolerable) hoặc một kết quả hoàn toàn chẳng thể chấp nhận được (completely intolerable). Lối dùng chữ sâu sắc và thần sầu của các nhà báo Mỹ quả đáng khâm phục để học hỏi. Bài bình luận được kết thúc bằng một lời thú tội chân thành và một nhận xét tinh tế: “Chúng tôi (The New Republic) lấy làm hối tiếc sâu xa về quyết định ủng hộ cuộc chiến. Những diễn biến trong hơn ba năm qua đã làm rối loạn lý tưởng của chúng ta cũng như đã nhắc nhở rằng sức mạnh quân sự của Hoa Kỳ cũng như sự khôn ngoan của mình cũng có những giới hạn của nó.”Riêng về những ý kiến khác nhau của các chuyên gia đóng góp trong diễn đàn của tờ The New Republic lần này cũng khá rắc rối. Nhà báo George Packer của tờ New Yorker thì cho rằng cuộc chiến này đã thất bại và Hoa Kỳ nên chuẩn bị cấp chiếu khán đi Mỹ cho những thành phần dân Iraq đã cộng tác với chính quyền Mỹ trong thời gian qua để họ có thể di tản khi lính Mỹ rút quân, khiến chúng ta nhớ lại những cảnh tương tự như đã xảy ra tại Nam Vang và Sài Gòn hồi năm 1975. Richard Clarke, phụ tá cao cấp ở Bạch Cung đặc trách chống khủng bố trong hai nhiệm kỳ TT Clinton và Bush thì chủ trương thực hiện ngay một kế hoạch rút quân nhưng kéo dài tuần tự trong vòng 18 tháng. Nhà báo David Rieff thì thẳng thừng hơn nữa: “Tống ngay các toán lính lên máy bay hồi hương đi, trước khi có thêm một nạn nhân xấu số nào khác chết oan cho những sai lầm của những lãnh tụ cao ngạo của đất nước (Hoa Kỳ) này.” Nhà báo tân-bảo-thủ Robert Kagan thì vẫn nhất dạ trung thành với lý tưởng tiếp tục đi tới, khuyên cần nên tăng thêm quân để giúp ổn định tình hình an ninh có thể được tiếp tục sau này khi quân đội Mỹ bắt đầu rút lui. Peter Galbraith, cựu đại sứ Mỹ tại Croatia, thì đề nghị phân chia Iraq thành 3 tiểu quốc riêng biệt là Shiite, Sunni và Kurd để tránh cảnh xâu xé. Reza Aslan, phân tích gia của đài CBS News, thì lại phản đối kế hoạch chia ba đất nước này, cho đó là một thảm hoạ. Giáo sư Anne Marie Slaughter, khoa trưởng của trường đại học ở Princeton thì khuyên rằng Hoa Kỳ cần phải đưa ra lời hăm doạ là sẽ rút quân ngay để cho mọi thành phần tại Iraq sẽ phải hốt hoảng và nhanh chóng ngồi lại với nhau để đi đến một thoả hiệp chung. Đó cũng là quan điểm của nhà báo Peter Beinart. Còn Josef Joffe, một giáo sư về chính trị học tại trường Đại học Stanford, thì tin rằng Hoa Kỳ nên tìm cách thoả hiệp với phe Sunni, tương tự như ý kiến của Larry Diamond, một cựu viên chức chính quyền đã từng phục vụ tại Iraq. Ngược lại, giáo sư James Kurth của trường Đại học Swarthmore thì đề nghị Hoa Kỳ cần phải diệt tan cho bằng được nhóm phiến quân Sunni trước khi rút khỏi Iraq. Sử gia Niall Ferguson thì khuyên là nên dùng tiền để mua chuộc các nhóm phiến quân. Và nhà báo Leon Wieseltier của tờ New Republic thì cho rằng việc rút quân là một điều hợp lý nhưng rồi lại khuyên nên tiếp tục có những cố gắng thêm nữa. Đọc đến đây, có lẽ nhiều người sẽ phát ngôn lên rằng “Ồ, rắc rối điên cái đầu.” Càng bàn luận thì càng sinh chuyện nát bét hơn nữa, giống như tên của một hội các anh Mít già thường hay tụ họp ở dưới phố Houston để tán gẫu về đủ thứ chuyện trên trời dưới đất, và lấy tên là hội Nát Bàn (càng bàn thì càng thêm nát chuyện.) Điều khác biệt là những nhân vật bình luận hay góp ý kể trên cũng có ít hay nhiều ảnh hưởng và uy tín để có thể ảnh hưởng lên các chính sách chung cuộc. Nhưng có lẽ các chuyên gia của Nhóm Nghiên Cứu Iraq (Iraq Study Group, ISG) do hai ông James Baker III và Lee Hamilton đồng chủ toạ cũng đang rơi vào một tình trạng tương tự. Có điều là họ không chỉ phỏng vấn lấy ý kiến của 14 chuyên gia mà có lẽ là cả trăm người khác nhau để từ đó mới mong tìm ra một ý kiến đồng thuận. Bởi vì thực tế cho thấy là hiện nay không ai dám bảo đảm là đề nghị hay kế hoạch của mình là khả quan, tốt đẹp hay hứa hẹn một tương lai sáng sủa cả. Giống như ban chủ biên của tờ The New Republic đã nhận định một cách cay nghiệt là những kết quả để thẩm định cho một tương lai về Iraq chỉ tóm gọn trong hai nhóm: đen tối (grim) hay hắc ám hơn nữa (grimmer); hiện nay không còn một người nào có thể thẳng thắn tin rằng Hoa Kỳ sẽ tìm được một lối thoát vinh quang từ bãi sa lầy ở Iraq. Tất cả những giải pháp đề ra hay sẽ được áp dụng đều phải trả bằng một cái giá nào đó. Chuyện tranh luận ở đây là ấn định ở cái giá nào phải trả, cũng như cố gắng đi tìm sự đồng thuận tối đa để tránh tiếp tục chia rẽ trong nội bộ vì người dân Hoa Kỳ vốn có tinh thần khoan dung, sẵn sàng bỏ qua những lỗi lầm trong quá khứ để học hỏi kinh nghiệm và cùng nhau đoàn kết trong nỗ lực cho quyền lợi chung.Chính ngay cả Thủ tướng Tony Blair của Anh Quốc, một đồng minh chí cốt của Hoa Kỳ, và đã phải “lãnh đạn dùm” cho việc làm của ông Bush khiến cho uy tín của ông bị sút giảm nặng nề ngay trong đất nước mình, mới đây cũng đã phải thú nhận rằng Iraq là một “thảm hoạ” (disaster), trong một cuộc phỏng vấn đặc biệt với phóng viên kỳ cựu Sir David Frost trên đài truyền hình Ả Rập Al-Jazeera. Lời nhận xét của Thủ tướng Anh được đưa ra chỉ sau vài giờ một nhận xét khác của một viên chức cao cấp khác của Anh, bà Margaret Hodge, tổng trưởng kỹ nghệ và mậu dịch, khi nói rằng Iraq là một lầm lẫn lớn của Thủ tướng Blair về mặt ngoại giao. Ông cố vấn tối cao Henry Kissinger cũng phải công nhận rằng cuộc chiến Iraq này không thể nào thắng được nữa.Dù gì đi nữa thì TT Bush cũng là người quyết định sau cùng. Cho dù Uỷ Ban ISG có đưa ra những lời đúc kết cẩn thận và tỉ mỉ, hay cuộc họp thượng đỉnh với Thủ tướng Nouri al-Maliki của Iraq tại Ammam mới đây cũng như việc ông Bush sẽ tham khảo với nhiều giới chức hay chuyên gia nào khác, thì cuối cùng cũng chỉ có TT Bush là người quyết định. Liệu ông có chịu thay đổi quan điểm cứng rắn, hay không chịu nhìn nhận thực tế tệ hại và cứ luôn miệng hô hào những lời rao rỗng tuếch? Để từ đó có can đảm nhìn nhận một lỗi lầm tệ hại và quyết tâm sửa đổi để cầu mong hàn gắn một phần nào những tai hại nặng nề đã qua? Hay là ông cứ vẫn tiếp tục đi tới, lầm lì giống như Phó Tổng thống Cheney đã từng phát biểu là Hoa Kỳ sẽ tiến mạnh như thường (full speed ahead) cho dù kết quả bầu cử có ra sao đi nữa? Nhưng đi về đâu? Có lẽ các ông ấy cũng không biết rõ.Cuộc chiến Iraq là do bộ ba Bush – Cheney – Rumsfeld chủ động với sự lèo lái và cổ động của các tay tân-bảo-thủ. Chính họ đã đẩy đưa Hoa Kỳ và Iraq rơi vào trong cái thế khó khăn ngày nay. Việc họ không còn có một giải pháp (option) khả quan nào khác là do lỗi ở họ tạo nên. Chính họ đã gây ra cái khó khăn ngày nay và không có một giải pháp nào giúp cho Hoa Kỳ thoát khỏi vũng lầy mà không phải trả một cái giá khá đắt. Và chính họ có lẽ sẽ phải chịu trách nhiệm về những hệ quả tai hại cho những gì sẽ xảy ra trong thời gian tới. Nguyễn Anh TuấnHouston, Texas

No comments: